chiến lược phát triển sản phẩm là một trong những từ khóa được search nhiều nhất trên google về chủ đề chiến lược phát triển sản phẩm. Trong bài viết này, winerp.com.vn sẽ viết bài Tổng hợp tất cả các chiến lược phát triển sản phẩm 2020
Tổng hợp tất cả các chiến lược phát triển sản phẩm 2020
Trong các ngành mua bán và kỹ thuật, tăng trưởng món hàng mới (New Product Development – NPD) là một tiến trình hoàn chỉnh hàng hóa và mang nó ra thị trường. Theo lý thuyết, phát triển hàng hóa được mô tả giống như là một sự chuyển biến từ một thời cơ đối tượng sang một sản phẩm mới đủ sức bán được. sản phẩm đó đủ sức là hữu ảnh (những vật có thể sờ, nắm được) hoặc vô ảnh (như một dịch vụ, sự trải nghiệm, lòng tin).
thành phần quan trọng hàng đầu góp phần sự phát triển cho một món hàng mới chính là hiểu thật rõ nhu cầu, mong muốn của KH. chi phí, thời gian và chất lượng là những biến số chính tác động vào nhu cầu của khách hàng. quy tụ vào ba biến số này, các công ty liên tục tăng trưởng các phương pháp và plan để đáp ứng được nhu cầu của khách hàng và gia tăng thị phần của mình thông qua việc tăng trưởng các món hàng mới một hướng dẫn thường xuyên. Có rất nhiều thách thức và rủi ro mà các doanh nghiệp phải đối mặt trong suốt quá trình phát triển món hàng mới. Việc phát huy tối đa nguồn lực, tiềm năng, dùng bí quyết kết quả nhất, và loại bỏ rào cản so với truyền thông là những mối để ý chính cho việc cai quản tiến trình NPD.
1. CẤU TRÚC QUY TRÌNH (PROCESS STRUCTURE)
công cuộc phát triển món hàng thường bao gồm một số hoạt động chủ yếu mà các công ty dùng trong việc cung cấp hàng hóa mới ra phân khúc. Một quy trình thống trị có tác dụng tạo lập một cấu trúc hoạt động thông suốt, nhất quán và đủ sức cải tiến thường xuyên. Mỗi món hàng mới sẽ đi qua rất nhiều các giai đoạn không giống nhau từ việc lên ý tưởng đến thiết kế, sản xuất và ra mắt đối tượng. Trong các hàng hóa có tính kỹ thuật cao, khó khăn (máy bay, ô tô, máy móc), quá trình NPD sẽ đi qua các giai đoạn, các cột mốc và việc làm chủ sự phân phối hàng hóa đòi hỏi một hệ thống được tổ chức quản lý tương đối khó khăn. món hàng càng khó khăn thì quá trình phát triển sản phẩm cũng như hệ thống cai quản cũng phức tạp hơn. Những tiến trình NPD khó khăn đặc biệt như trong các dự án máy bay quân sự dùng phương thức tích hợp các hàng hóa. Qúa trình NPD với các hàng hóa kỹ thuật thường sẽ khó khăn và diễn ra chậm chạp hơn rất nhiều (khoảng trên 10 năm) đối với việc khai triển các mặt hàng tiêu sử dụng mau (khoảng vài tuần).
tiến trình phát triển hàng hóa về cơ bản có bốn giai đoạn chính:
- Fuzzy front-end (FFE) là việc lên danh sách các hoạt động chuẩn bị và định nghĩa rõ ràng các yêu cầu về chủng loại. Ở bước này, ta cần đề ra các tiêu chí cụ thể cho món hàng để có thể cung cấp đúng với nhận định của thị trường hoặc nhu cầu của doanh nghiệp.
- Product thiết kế (Thiết kế mô ảnh sản phẩm) từ tổng quan đến từng chi tiết cụ thể: biến đổi những yêu cầu thành những phần cụ thể và khiến cho sản phẩm đủ sức giải quyết được những yêu cầu đó. Về mảng mkt và tạo lập kế hoạch, công đoạn này kết thúc với việc đánh giá các nguyên nhân tiền thương mại.
- Product Implementation (Triển khai và thực hiện sản phẩm) là giai đoạn thiết kế chi tiết về phần cứng và software, hoặc là kĩ năng software cho các phần mềm nhúng, hoặc là bản mẫu cho các loai sản phẩm và các loại món hàng khác. song song, bất kỳ quy trình kiểm tra nào cũng có thể được sử dụng để xác nhận rằng nguyên mẫu của các món hàng thực sự đạt các tiêu chuẩn kỹ thuật quan trọng và yêu cầu về đặc điểm mà trước đó thiết lập ở bước đầu
- Fuzzy back-end (FBE) hoặc giai đoạn thương mại hoá là các bước hành động khi sản xuất hàng hóa và mang nó ra thị trường
Các kế hoạch tiếp thị khách hàng đã được tìm hiểu rất kỹ với nhiều mô hình có giá trị cao. Peter Koen vừa mới cung cấp một mô ảnh hoạt động 5 bước được coi là một sự đột phá lớn: dựng lại thời cơ, nghiên cứu thời cơ, sáng tạo ý tưởng, lựa chọn ý tưởng và phát triển ý tưởng, công nghệ. Ông cho rằng một động cơ xúc tiến năm bước này hoạt động và các rào cản bên ngoài đủ nội lực tác động đến kết quả của quá trình. Động cơ đó đại diện cho bộ máy quản lý điều khiển các hoạt động được mô tả. Những bước trước nhất sẵn sàng cho một sự đổi mới chính là thời gian chông gai nhất trong công cuộc NPD. Điều này chủ yếu là do giai đoạn FFE thường rất hỗn độn, rất khó đoán trước và không có cấu trúc cố định. thiết kế là quá trình tiếp theo mà ở đó một phương pháp kỹ thuật được phát triển lặp đi lặp lại để giải quyết một vấn đề nhất định. giai đoạn design là rất quan trọng bởi vì phần đông chi phí tổn thất cho một vòng đời hàng hóa đều ở thời gian này. Các tìm hiểu trước đây cho thấy khoảng 70 đến 80% chất lượng hàng hóa cuối cùng và 70% all ngân sách cho món hàng đều đủ sức dựng lại được trong giai đoạn design này, vì thế ta sẽ cố gắng cắt giảm nhiều nhất đủ nội lực. Một giai đoạn design dẫn dài từ vài tuần đến ba năm và thời gian trung bình là khoảng một năm. Các giai đoạn design và thương mại hoá thường khởi đầu sự hòa hợp từ khá sớm. Khi công đoạn design ý tưởng chấm dứt, bản design sẽ được send tới nhà máy sản xuất để tạo mẫu, phát triển phương thức kĩ năng đồng thời (Concurrent Engineering) bằng cách thực hiện các thử nghiệm thực tiễn, tiêu biểu là “triển khai tính năng chất lượng” (Quality Function Deployment – QFD). kết quả của giai đoạn design gồm một bộ sản phẩm và các quy trình kỹ thuật – chủ yếu ở dạng bản vẽ, và đầu ra trong giai đoạn sản xuất là món hàng đang chuẩn bị để tung ra phân khúc. Về cơ bản, group design sẽ phát triển các bản vẽ các thông số kỹ thuật đại diện cho món hàng trong tương lai và sẽ gửi đến nhà máy sản xuất để được thực hiện. giải quyết những vấn đề về việc hàng hóa và quy trình ăn khớp được ưu tiên cao trong hoạt động thông tin mạng vì 90% cố gắng phát triển sẽ phải loại bỏ nếu có thay đổi được thực hiện sau khi vào công đoạn sản xuất.
2. CÁC MÔ ảnh
Các mô ảnh khái niệm đang được thiết kế, tạo điều kiện thuận tiện cho một tiến trình thiết lập hàng hóa hoàn chỉnh. IDEO, một doanh nghiệp cung cấp các gói design rất thành công vừa mới vận dụng một trong những quy trình được nghiên cứu nhiều nhất về phát triển sản phẩm. Quy trình gồm 5 bước và đủ nội lực liệt kê theo thứ tự thời gian như sau:
- Hiểu và Nhìn thị trường, khách hàng, công nghệ, và những vấn đề hiện hữu;
- tổng hợp các thông tin thu thập ở bước đầu;
- ảnh dung được khách hàng mục tiêu dùng sản phẩm;
- Tạo nguyên mẫu, nghiên cứu và update sản phẩm;
- Thực hiện các thay đổi design có liên quan đến các quy trình kỹ thuật chất lượng hơn, thành ra, bước này sẽ đòi hỏi nhiều thời gian hơn.
Một trong những mô ảnh được phát triển từ rất sớm mà các công ty cho đến nay luôn luôn dùng trong quy trình NPD là mô ảnh Booz, Allen và Hamilton (BAH Model) ,xuất bản vào năm 1982. Đây là mô hình được biết đến nhiều nhất vì nó là cơ sở cho các hệ thống NPD đưa ra sau đó. Mô hình này là đại diện cho nền móng của toàn bộ các mô ảnh khác đã được phát triển về sau. Rất nhiều nghiên cứu được tiến hành để đề xuất các mô hình xuất sắc hơn, nhưng trên thực tiễn các mô hình đó đều có thể dễ dàng xem sự liên kết với mô ảnh BAH. Bảy bước của mô hình BAH là: kế hoạch món hàng mới, tạo ý tưởng, sàng lọc, phân tích, nghiên cứu phân khúc, phát triển, trải nghiệm và thương mại hóa.
Một nhà đi đầu về tìm hiểu NPD trong ngành nghề hàng tiêu dùng là Robert G. Cooper. Trong hai thập kỷ qua, ông đã tiến hành những nghiên cứu vô cùng quan trọng về công cuộc NPD. Mô hình Stage-Gate đoạn được phát triển từ những năm 80 thế kỉ trước được coi là một công cụ kết quả để quản lý các quy trình tăng trưởng hàng hóa. Mô ảnh này chủ yếu vận dụng cho ngành nghề hàng tiêu dùng. nghiên cứu của Trung tâm chất lượng và năng suất Mỹ (APQC) năm 2010 cho thấy 88% doanh nghiệp Mỹ dùng hệ thống Stage-Gate để quản lý các sản phẩm mới, tính từ lúc còn là ý tưởng cho đến khi ra mắt. Đổi lại, các doanh nghiệp thông qua hệ thống này nhận được các quyền lợi giống như nâng cao teamwork, tỷ lệ thành đạt được thay đổi, sớm phát hiện nguy cơ , và thậm chí thời gian được rút ngắn tối đa – giảm khoảng 30%. Những hiệu quả này làm nổi bật tầm cần thiết của mô hình Stage-Gate trong công cuộc phát triển hàng hóa mới. Trong vài năm Khoảng thời gian mới đây, phong trào Lean khởi ngiệp trở nên vô cùng phổ biến, thách thức nhiều giả thuyết vốn có trong mô hình Stage-Gate.
3. marketing
Có hàng loạt các bí quyết được đề nghị để đánh giá và cung cấp những thách thức trong quảng cáo và phát triển hàng hóa mới. Hai trong số đó là một công cuộc gồm tám bước của Peter Koen đến từ Viện Công nghệ Stevens, và tiến trình còn lại được gọi là Fuzzy Front End
3.1 FUZZY FRONT END (FFE)
FFE là giai đoạn khởi động của các quy trình tăng trưởng công nghệ hàng hóa mới và có rất nhiều đầu việc liên quan tới gian đoạn này. Trong thời gian này, doanh nghiệp sẽ xây dựng những định nghĩa, chủ đề hay công dụng trước hết về sản phẩm để nhìn thấy đủ sức quyết định đầu tư và tăng trưởng ý tưởng hay không. Đây là công đoạn giữa việc nảy ra ý tưởng và việc thiết lập công cuộc tăng trưởng món hàng. FFE bao gồm toàn bộ các hoạt động từ việc đánh giá thời cơ phân khúc mới trên cơ sở là một ý tưởng tốt để từ đó phát triển những tính năng chính xác của sản phẩm. giai đoạn Fuzzy Front End kết thúc khi plan được phê duyệt và bắt đầu khai triển chính thức công cuộc phát triển hàng hóa.
Mặc dù FFE đủ sức gây tổn thất quá nhiều ngân sách trong phát triển hàng hóa, nhưng công đoạn này có thể tiêu tốn đến 50% tổng thời gian. Những quyết định chính liên quan đến thời gian, tiền bạc và bản chất của món hàng thường được đưa ra trong công đoạn này, từ đó thiết lập các đầu việc cho all dự án và hoàn thành hàng hóa cuối cùng. cho nên, công đoạn này nên được coi là một phần không thể thiếu trong cả công cuộc phát triển sản phẩm chứ k chỉ đơn giản là một thứ gì đó mang nghĩa “trước khi bắt đầu”. tất nhiên, thời gian cho giai đoạn này cũng nên được đưa vào tổng thời gian cho một chu trình tăng trưởng sản phẩm.
Có năm yếu tố thuộc công đoạn FFE giống như sau (các yếu tố được sắp đặt ngẫu nhiên):
- Nắm bắt cơ hội
- phân tích cơ hội
- hình thành ý tưởng
- lựa chọn ý tưởng
- phát triển ý tưởng và công nghệ
thành phần trước tiên là nắm bắt cơ hội. Trong yếu tố này, các thời cơ và xu hướng mua bán và công nghệ được dựng lại theo một cách có cấu trúc dù ít hay nhiều. Các gốc lực cuối cùng sẽ được phân bổ để thực hiện dự án,… Điều này góp phần tạo nên một chiến lược tăng trưởng hàng hóa và tiến trình có cấu trúc
yếu tố thứ hai là nghiên cứu cơ hội. Ta cần đánh giá thời cơ từ đó xác định xem thời cơ đó có ý nghĩa như thế nào cho bối cảnh kinh doanh và tiềm năng công nghệ của doanh nghiệp. chăm chỉ to to này cần được thực hiện để có thể gắn kết group KH mục đích với việc nghiên cứu đối tượng và trải nghiệm kĩ thuật.
thành phần thứ ba là sự hình thành ý tưởng, được giới thiệu như tiến trình tiến hóa lặp lại nhiều lần diễn ra từ sinh ra đến sự trưởng thành thực sự của những ý tưởng hữu ảnh. quá trình xây dựng ý tưởng đủ sức được thực hiện nội bộ hoặc từ các partner bên ngoài, ví dụ: một nhà sản xuất đưa ra một loại vật liệu / công nghệ mới hay khách hàng với một yêu cầu đặc biệt.
yếu tố thứ tư là chọn ý tưởng. mục tiêu là lựa chọn đúng một ý tưởng để theo đuổi bằng hướng dẫn nghiên cứu giá trị mua bán tiềm năng của nó.
nguyên nhân thứ năm là tăng trưởng ý tưởng và công nghệ. Trong phần này của giai đoạn FFE, các phương pháp kinh doanh được tăng trưởng dựa trên ước tính tổng số thị phần hiện có, nhu cầu của khách hàng, gốc vốn đầu tư quan trọng, phân tích cạnh tranh và những nguy cơ của dự án. Một số tổ chức coi đây là giai đoạn trước tiên của tiến trình NPPD (Giai đoạn 0).
giai đoạn Fuzzy Front End cũng có những tên gọi khác như “Front End of Innovation”, “Phase 0”, “Stage 0” hay “Pre-Project-Activities”
3.2 CÁC mẹo không giống
Các tác giả không giống đã phân chia các hoạt động tiền phát triển hàng hóa khác nhau:
- Sơ bộ
- phân tích kỹ thuật
- phân tích gốc cung cấp: nhà sản xuất và đối tác kết hợp
- tìm hiểu thị trường: quy mô thị trường và tìm hiểu phân khúc, nhu cầu khách hàng (Voice of Customer – VoC)
- thử nghiệm ý tưởng
- đánh giá giá trị KH
- định hướng hàng hóa
- nghiên cứu tài chính – mua bán
Các hoạt động này nhằm mang lại thông tin cần thiết để đưa ra quyết định có theo đuổi việc tăng trưởng món hàng mới hay k.
Cũng có nhiều giả thuyết sử dụng phương thức tìm hiểu thực nghiệm vừa mới dựng lại giai đoạn tiền tăng trưởng sản phẩm gồm có các hành động sau:
- xây dựng kế hoạch truyền thông món hàng
- dựng lại và phân tích cơ hội
- tạo dựng ý tưởng
- định hình hàng hóa
- Lập plan dự án
- nghiên cứu việc vận hành
đánh giá tình hình kinh tế, so sánh, đánh giá các sản phẩm cạnh tranh và việc xây dựng các nguyên mẫu cũng là những hoạt động quan trọng trong công đoạn trước hết này. Các kết quả cần đạt được của FFE là:
- Tuyên bố sứ mệnh
- Nhu cầu khách hàng
- Chi tiết của ý tưởng đã lựa chọn
- định hướng hàng hóa và thông số kỹ thuật đi cùng
- phân tích tiềm năng của hàng hóa
- Lịch trình tăng trưởng
- nguồn tài chính và nhân viên cho dự án
- plan kinh doanh đi cùng với kế hoạch của công ty
Một mô hình của công đoạn tiền tăng trưởng món hàng được đề nghị sẽ bao gồm các bước đi trước hết của công cuộc đổi mới. Mô hình này được cấu trúc trong ba công đoạn và ba mấu chốt:
- giai đoạn 1: khảo sát môi trường và dựng lại thời cơ, trong đó các cải thiện bên ngoài phân khúc sẽ được nghiên cứu và chuyển thành các thời cơ kinh doanh tiềm năng.
- giai đoạn 2: định hướng sơ bộ về một ý tưởng hay chức năng hàng hóa
- công đoạn 3: định hình chi tiết sản phẩm dịch vụ và lập kế hoạch kinh doanh.
3 mấu chốt là:
- nghiên cứu được các thời cơ
- phân tích được ý tưởng tiềm năng
- Quyết định plan tăng trưởng
Mấu chốt cuối cùng sẽ dẫn đến dự án tăng trưởng món hàng mới. Nhiều chuyên gia và các nhà tìm hiểu cho rằng các đặc điểm chung của công cuộc Fuzzy Front End là lấp lửng, mơ hồ, và không dĩ nhiên, điều đó khiến FFE khó được coi là một quá trình có cấu trúc, mà là một hội tụ của một loạt các hoạt động phụ thuộc lẫn nhau. tuy nhiên, cũng có quan niệm cho rằng giai đoạn tiền tăng trưởng hàng hóa đủ nội lực được xử lý theo một mẹo có cấu trúc. Trong thực tế, khi kết hợp các thành phần thành công trong giai đoạn này, tỉ lệ sự phát triển của hàng hóa cũng sẽ tăng lên. Peter Koen cho rằng công cuộc FFE của các dự án platform (nền tảng) tăng trưởng, ba plan và quy trình riêng biệt thường có liên quan đến nhau. Quy trình Stage-Gate từ xưa được design để tăng trưởng sản phẩm tiêu dùng, cụ thể là cho từng hàng hóa duy nhất. FFE sử dụng để tăng trưởng một platform mới cần phải bắt đầu với một tầm Nhìn plan to hơn. Các dự án cho một sản phẩm hay dịch vụ đột phá cũng từ khi một tầm Nhìn plan tương tự, nhưng thường sẽ liên quan đến các cập nhật công nghệ và đòi hỏi những khám phámới.
Các hàng hóa gia tăng, đột phá và nền tảng bao gồm:
- Các sản phẩm gia tăng có những đặc điểm giống như chi phí giảm, update chức năng, bổ sung trên các nền móng hiện có và định vị lại các món hàng không giống được giới thiệu trên thị trường.
- Các hàng hóa mang tính đột phá là sự đổi mới trong doanh nghiệp hay đổi mới với cả thế giới, đem lại hiệu suất cao hơn gấp 5-10 lần hoặc cao hơn nữa, cùng với giảm ngân sách từ 30-50% trở lên.
- Các hàng hóa nền móng xây dựng một mô ảnh cơ bản cho một sản phẩm hoặc quy trình tiếp theo rộng hơn về quy mô và gốc lực so với các dự án gia tăng.
4. quản lý VẬN HÀNH
Các doanh nghiệp cần có phương pháp tiếp cận toàn diện để thống trị tiến trình NPD và thường xuyên đổi mới và phát triển các sản phẩm mới nếu họ muốn tăng trưởng vững bền. Sau đây là các chiến lược vận hành không giống nhau:
CUSTOMER CENTERED (khách hàng là thượng đế) tập hợp vào việc:
- Tìm ra những phương thức mới giải quyết vấn đề của KH.
- Tạo thử nghiệm mới thỏa mãn nhiều KH hơn
Các doanh nghiệp thường dựa vào tiềm lực công nghệ, nhưng thành công thực sự lại đến từ sự thấu hiểu nhu cầu và giá trị của KH.
Các công ty thành đạt nhất thường có những đặc điểm sau:
- khác biệt
- giải quyết được các chủ đề khách hàng
- mang ra đề nghị phương pháp trị giá KH cuốn hút
- Tương tác trực tiếp với khách hàng
team BASED (nhân lực là cần thiết nhất). plan như sau:
- Để tạo ra được các món hàng mới, các phòng ban của doanh nghiệp phải làm việc chặt chẽ và hòa hợp các bước trong quá trình tăng trưởng sản phẩm nhằm tiết kiệm thời gian và gia tăng hiệu suất sử dụng việc
- Các phòng ban là: hành chính, marketing, tài chính, design và sản xuất, nhà sản xuất và KH.
- Nếu có vấn đề, tất cả công ty đều có thể sử dụng việc và tụ hội khắc phục chủ đề.
SYSTEMATIC (phát triển món hàng mới có tính hệ thống)
quá trình phát triển cần có tính toàn diện và nền tảng để tránh việc những ý tưởng kinh doanh tốt bị k thể được thực hiện
nền tảng thống trị sáng tạo (Innovation Management System) sẽ thu thập, đánh giá các ý tưởng sản phẩm mới và quản lý chúng.
- công ty bổ nhiệm một người quá đủ cấp độ sử dụng Giám đốc Sáng tạo đủ sức khuyến khích cả doanh nghiệp
- nhân sự, nhà sản xuất, npp và đại lý tham gia vào việc tìm kiếm và phát triển hàng hóa mới.
Sau đó, có một Uỷ ban thống trị sáng tạo (Cross-Functional Innovation Management Committee) sẽ:
- đánh giá ý tưởng hàng hóa mới
- Quyết định những ý tưởng tốt
Những phương thức mới để tạo thử nghiệm KH, từ việc xây dựng và chắt lọc ý tưởng món hàng mới để triển khai và sản xuất các hàng hóa muốn.
TURBULENT TIMES (thời điểm bất ổn)
Khi chúng ta đã trong một tình hình kinh tế chông gai, thường thì người cai quản sẽ tiết kiệm chi tiêu cho việc phát triển sản phẩm mới.
ngoài ra chính tại những thời điểm chông gai này hãy kêu gọi:
- phát triển sản phẩm mới, cung cấp các giải pháp đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của KH.
- cải tiến công nghệ
- tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp
- Định vị nó tốt hơn trong tương lai.
Trong các lĩnh vực mua bán và kỹ thuật, phát triển hàng hóa mới (New Product Development – NPD) là một quá trình hoàn chỉnh sản phẩm và mang nó ra thị trường. Theo lý thuyết, phát triển hàng hóa được mô tả như là một sự chuyển biến từ một cơ hội thị trường sang một hàng hóa mới đủ nội lực bán được. sản phẩm đó đủ sức là hữu hình (những vật đủ nội lực sờ, nắm được) hoặc vô ảnh (như một dịch vụ, sự thử nghiệm, lòng tin).
Nguồn: /www.saga.vn/