Đánh giá dự án đầu tư là một trong những keyword được search nhiều nhất trên Google về chủ đề đánh giá dự án đầu tư. Trong bài viết này, Winerp.com.vn sẽ viết bài viết Đánh giá dự án đầu tư là gì? Tại sao chúng ta cần phải đánh giá dự án đầu tư?
Đánh giá dự án đầu tư là gì? Tại sao chúng ta cần phải đánh giá dự án đầu tư?
Những mẹo chủ yếu nghiên cứu và lựa chọn dự án đầu tư:
Việc quyết định thực hiện một dự án đầu tư đòi hỏi phải cân nhắc xem xét nhiều mặt. Trên góc độ tài chính, chúng ta chủ yếu xem xét mặt hiệu quả kinh tế đầu tư. Có nhiều tiêu phù hợp không giống nhau được dùng để nghiên cứu được mức tiềm năng doanh số của một dự án đầu tư.
a. phương thức tỷ suất lợi nhuận bình quân của vốn đầu tư
Đây là phương pháp chọn dự án đầu tư dựa trên cơ sở so sánh giữa hiệu quả thu được do đầu tư đem lại doanh số (lợi nhuận sau thuế) và tiền vốn bỏ ra đầu tư.
cách thức chọn này được tiến hành giống như sau:
– Mỗi phương án mang ra so sánh cần xác định tỷ suất lợi nhuận bình quân vốn đầu tư của dự án đó.
– So sánh tất cả các dự án với nhau, dự án nào có tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư cao hơn là phương án tốt hơn.
Tỷ suất lợi nhuận thuần bình quân vốn đầu tư là mối quan hệ giữa số doanh số bình quân thu được hàng năm do đầu tư đem lại trong suốt thời gian bỏ vốn đầu tư và số vốn đầu tư bình quân hàng năm.
Số doanh số thuần dự kiến thu được hàng năm thể hiện hiệu quả thu được do đầu tư đem lại ở mỗi năm. Việc tính kết quả thu được do đầu tư đem lại được tính tính từ lúc thời điểm bỏ vốn đầu tư để thực hiện dự án. giống như vậy, những năm bỏ vốn thi công thì kết quả được tính ở các năm thi công là bằng không (0). Điều đó có nghĩa là mặc dù vừa mới bỏ vốn đầu tư nhưng chưa thu được một đồng doanh số nào cả. Nếu thời gian thi công càng dài thì sẽ giúp cho kết quả chung của vốn đầu tư càng thấp, vì đồng vốn bỏ vào đầu tư bị ứ đọng, chưa sinh lời. Số năm bỏ vốn đầu tư cũng được tính từ thời điểm khởi đầu bỏ vốn thực hiện dự án đầu tư cho đến khi chấm dứt dự án.
số tiền đầu tư bình quân hàng năm được tính theo bình quân số học trên cơ sở tổng số vốn đầu tư ở các năm trong suốt thời gian đầu tư và số năm bỏ vốn đầu tư.
số tiền đầu tư cho một doanh nghiệp hoặc một phân xưởng gồm có toàn bộ số vốn đầu tư về tài sản cố định và số tài nguyên đầu tư về tài sản lưu động.
Để tính được số tài nguyên bình quân đầu tư hàng năm cần phải định hình vốn đầu tư ở từng năm trong suốt các năm đầu tư. số vốn đầu tư ở mỗi năm được dựng lại là số tiền đầu tư luỹ kế ở thời điểm cuối mỗi năm trừ đi số khấu hao tài sản cố định luỹ kế ở thời điểm đầu mỗi năm.
cách thức này nói chung là đơn giản nhưng có sự hạn chế là chưa tính các thời điểm không giống nhau nhận được doanh số trong tương lai của mỗi dự án và chưa tính đến yếu tố trị giá theo thời gian của tiền.
b. cách thức thời gian hoàn vốn đầu tư.
bí quyết này chủ yếu dựa vào tiêu hợp lý thời gian thu hồi vốn đầu tư. Thời gian hoàn vốn đầu tư là khoảng thời gian quan trọng mà dự án tạo ra thể loại tiền thu nhập bằng số tiền đầu tư để thực hiện dự án. Để dựng lại thời gian thu hồi vốn đẩu tư, chúng ta có thể chia ra hai trường hợp:
Trường hợp 1: Nếu dự án đầu tư xây dựng chuỗi tiền tệ thu nhập đều đặn hàng năm thì thời gian thu hồi vốn đầu tư được dựng lại theo một mẹo đơn giản:
Vốn đầu tư
Thời gian thu hồi vốn đầu tư ( năm) = ——————————
Thu nhập hàng năm
Trường hợp 2: Dự án xây dựng chuỗi tiền tệ doanh thu không ổn định ở các năm. Thời gian thu hồi vốn được định hình theo phương pháp sau:
– định hình số tài nguyên đầu tư còn phải thu hồi ở cuối năm lần lượt theo thứ tự bằng cách quét số vốn đầu tư chưa thu hồi ở cuối năm trước trừ đi số thu nhập của năm tiếp đó.
– Khi số tài nguyên đầu tư còn phải thu hồi nhỏ hơn số thu nhập của năm kế tiếp, thì get số vốn đầu tư chưa thu hồi chia cho số doanh thu bình quân 1 tháng của năm tiếp theo để tìm ra số tháng còn phải liên tục thu hồi vốn đầu tư.
Trên cơ sở tính toán như vậy, tổng hợp lại sẽ xác định được số năm và số tháng thu hồi được vốn đầu tư.
Tiêu hợp lý thời gian thu hồi vốn đầu tư được dùng vào việc chọn dự án đầu tư được thực hiện như sau:
– Để dễ dàng việc tính toán trước tiên hãy loại bỏ các dự án đầu tư có thời gian thi công dẫn dài không giải quyết được yêu cầu của công ty. Xếp các dự án có thời gian thi công giống như nhau vào cùng một loại.
– định hình thời gian thu hồi vốn đầu tư của mỗi dự án. Trên cơ sở đó, công ty sẽ lựa chọn dự án có thời gian thu hồi vốn đầu tư thích hợp với thời gian thu hồi vốn mà công ty dự định. Thông thường doanh nghiệp để ra khoảng thời gian tối đa thu hồi vốn đầu tư.
giống như vậy, những dự án có thời gian thu hồi vốn dài hơn thời gian tối đa dự định sẽ bị loại bỏ. Nếu hai dự án loại trừ nhau thì dự án có thời gian thu hồi vốn ngắn hơn thường là dự án được lựa chọn.
ưu điểm cảu phương pháp:
– đơn giản, easy tính, cho phép Quan sát nhận dự án một cách trực quan hơn.
– thích hợp với việc xem xét các dự án đầu tư quy mô vừa và nhỏ hoặc doanh nghiệp mua bán theo chiến lược thu hồi vốn mau tăng trưởng vòng quay vốn.
hạn chế của phương pháp:
– cách thức thời gian thu hồi vốn đầu tư chú trọng nhìn thấy xét lợi ích ngắn hạn hơn là quyền lợi lâu dài, nó ít chú trọng đến việc nhìn thấy xét các khoản thu sau thời gian thu hồi vốn, thành ra những dự án đầu tư có mức sinh lợi chậm giống như sản xuất ra hàng hóa mới hay xâm nhập vào phân khúc mới v.v.. k phù hợp với việc lựa chọn đầu tư theo công thức này.
– Việc chọn dự án đầu tư theo tiêu phù hợp thời gian thu hồi vốn đầu tư cũng k quan tâm đến thành phần thời gian của tiền tệ hay nó phương pháp khác nó không chú ý đến thời điểm phát sinh của các khoản thu, các đồng tiền thu được ở thời điểm không giống nhau được nghiên cứu giống như nhau.
c. mẹo giá trị hiện tại thuần ( NPV)
Đây là một trong những phương pháp đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư dựa trên cơ sở xem xét mức sinh lời của dự án có tính đến yếu tố trị giá về mặt thời gian của tiền.
Tiêu hợp lý phân tích và lựa chọn dự án đầu tư chủ yếu là giá trị cho đến nay thuần của khoản đầu tư. trị giá hiện giờ thuần của khoản đầu tư là số chênh lệch giữa trị giá hiện nay của các khoản vốn đầu tư đưa lại trong tương lai với giá trị bây giờ của vốn đầu tư bỏ ra và đủ nội lực được xác định theo mẹo sau:
Trong đó :
NPV: trị giá hiện giờ thuần của khoản đầu tư lâu dài của đầu tư. CFt: Khoản tiền thu từ đầu tư ở năm thứ t. ICt: Vốn đầu tư ở năm thứ t.
n : Vòng đời của khoản đầu tư.
r: tỷ lệ hoa hồng hay % ngày nay hoá.
giống như vậy, giá trị hiện giờ thuần thể hiện trị giá tăng trưởng thêm của khoản đầu tư có tính đến nguyên nhân trị giá thời gian của tiền đầu tư.
Một trong những vấn để phức tạp trong việc tính giá trị hiện giờ thuần của khoản đầu tư là dựng lại việc dùng phần trăm chiết khấu thêm vào. phần trăm chiết khấu được sử dụng là tỷ suất sinh lời kỳ vọng của người đầu tư hay ngân sách dùng vốn.
Việc sử dụng giá trị cho đến nay thuần làm tiêu chuẩn phân tích và chọn dự án được thực hiện giống như sau:
– xác định trị giá bây giờ thuần của mỗi dự án đầu tư.
– nghiên cứu và lựa chọn dự án:
+ Nếu giá trị hiện tại thuần của dự án là một số âm (NPV < 0 ) thì dự án bị loại bỏ.
+ Nếu trị giá hiện giờ thuận của dự án bằng không (NPV = 0 ) thì tuỷ thuộc vào tình hình cụ thể và sự cần thiết của dự án mà doanh nghiệp có thể quyết loại bỏ hoặc chấp thuận dự án.
+ Nếu giá trị bây giờ của dự án là số dương (NPV > 0): nếu trường hợp các dự án là độc lập thì đều có thể chấp thuận. Nếu các dự án thuộc loại loại trừ nhau và đều có thời gian hoạt động như nhau thì dự án nào có giá trị hiện nay thuần dương to nhất là dự án được lựa chọn (trong điều kiện không bị giới hạn về cấp độ huy động vốn đầu tư).
ưu điểm của công thức NPV
– Cho phép Quan sát nhận hiệu quả của dự án xác đáng hơn do có tính đến nguyên nhân giá trị về mặt thời gian của tiền
– Cho phép đo lường trực tiếp trị giá tăng trưởng thêm do vốn đầu tư tạo ra, từ đó tạo điều kiện cho việc nghiên cứu và lựa chọn dự án phù hợp với mục đích tối đa hoá doanh số của doanh nghiệp.
hạn chế của mẹo NPV
– k phản ánh mức sinh lời của đồng vốn đầu tư.
– k cho thấy mối liên hệ giữa mức sinh lời của vốn đầu tư và chi phí dùng vốn.
d. công thức tỷ suất doanh lợi nội bộ (IRR)
Tỷ suất doanh lợi nội bộ hay còn gọi là lãi suất hoàn vốn nội bộ là một lãi suất mà với mức lãi suất đó làm cho giá trị hiện tại của các khoản thu trong tương lai do đầu tư mang lại bằng với trị giá hiện nay của vốn đầu tư. giống như vậy, tỷ suất chiết khấu đó sử dụng cho giá trị hiện nay thuần của dự án đầu tư bằng không. đủ sức hiểu tỷ suất doanh lợi nội bộ qua mẹo sau:
Trong đó:
NPV, CFt , ICt: giống như chú like ở trên
IRR: Tỷ suất doanh lợi nội bộ của khoản đầu tư (hay dự án đầu tư ).
Tỷ suất doanh lợi nội bộ cũng là một trong những đại lượng phản ánh mức sinh lời của dự án đầu tư. Để dựng lại tỷ suất doanh lợi nội bộ của dự án người ta thường sử dụng hai phương pháp: phương thức thử, xử lý sai số và bí quyết nội suy.
Theo phương pháp thử và xử lý sai số, việc tìm ra tỷ suất doanh lợi nội bộ về cơ bản được thực hiện như sau:
trước hết, tự lựa chọn một lãi suất và dùng lãi suất đó làm % chiết khấu để tìm giá trị hiện nay của các khoản thu và trị giá hiện giờ của vốn đầu tư.
kế tiếp, xác định giá trị ngày nay thuần của dự án. Nếu trị giá này bằng 0 thì lãi suất vừa lựa chọn chính là tỷ suất doanh lợi nội bộ của dự án. Nếu giá trị cho đến nay thuần lớn hơn không (NPV>0) thì liên tục thử lại bằng phương pháp nâng mức lãi suất tự lựa chọn lên. trái lại, nếu giá trị bây giờ thuần nhỏ hơn không (NPV < 0) thì phải hạ mức lãi suất tự chọn xuống, tiếp tục làm như vậy cho đến khi lựa chọn được một lãi suất sử dụng cho giá trị hiện giờ thuần bằng 0 hoặc xấp xỉ bằng 0 thì lãi suất đó là tỷ suất doanh lợi nội bộ của dự án.
Theo cách thức nội suy, việc định hình tỷ suất doanh lợi nội bộ của dự án thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: lựa chọn một lãi suất r1, sao cho với lãi suất này xác định được giá trị bây giờ thuần của dự án là một số dương (NPV1>0) .
Bước 2: thường xuyên lựa chọn một lãi suất r2, sao cho với lãi suất này tìm được giá trị hiện tại thuần của dự án là một số âm (NPV1<0) .
Bước 3: Tìm tỷ suất doanh lợi nội bộ của dự án. Trong phần trên đã định hình được:
+ Lãi suất r1 mà với r1 thì NPV1 > 0
+ Lãi suất r2 mà với r2 thì NPV2 < 0
giống như vậy, tỷ suất doanh lợi nội bộ (IRR) nằm trong khoảng r1 và r2 và được dựng lại theo công thức:
Ngoài hai phương pháp vừa mới nêu, người đọc còn đủ sức xác định tỷ suất doanh lợi nội bộ bằng phương pháp vẽ đồ thị.
Việc đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư bằng công thức tỷ suất doanh lợi nội bộ (IRR) được thực hiện theo trình tự sau:
– dựng lại tỷ suất doanh lợi nội bộ của dự án đầu tư.
– phân tích và chọn dự án: Khi sử dụng tỷ suất doanh lợi nội bộ sử dụng tiêu chuẩn chủ yếu xem xét đồng ý hay loại bỏ dự án, thông thường người đọc dựa trên cơ sở so sánh tỷ suất doanh lợi nội bộ với phần trăm hoa hồng thông thường khi cho đến nay hoá giá trị dự án mà thường là chi phí sử dụng vốn cho dự án (r) chẳng hạn giống như lãi suất vay vốn. V.v… Và cần phân biệt ba trường hợp sau:
Trường hợp 1: nếu IRR< r thì cần loại bỏ phương án.
Trường hợp 2: nếu IRR< r thì tuỳ theo điều kiện cụ thể và sự quan trọng của dụ án mà doanh nghiệp đủ sức quyết định chấp thuận hay loại bỏ phương án.
Trường hợp 3: nếu IRR
+ Nếu đây là dự án độc lập thì dự án được đồng ý.
+ Nếu là các dự án thuộc loại loại bỏ lẫn nhau, thì lựa chọn dự án có tỷ suất doanh lợi nội bộ cao nhất.
Ưu, yếu điểm của phương thức
+ cách thức tỷ suất doanh lợi nội bộ cho phép đánh giá được mức sinh lời của dự án có tính đến nguyên nhân trị giá thời gian của tiền tệ.
+ Cho phép đơn giản so sánh mức sinh lời của dự án với ngân sách dùng vốn, thấy được mối liên hệ giữa việc huy động vốn và kết quả dùng vốn trong việc thực hiện dự án đầu tư.
hạn chế của phương thức
+ Trong mẹo tỷ suất doanh lợi nội bộ doanh thu của dự án được giả định tái đầu tư với lãi suất bằng với tỷ suất doanh lợi của dự án. Điều đó không thật thích hợp với thực tế nhất là so với dự án có tỷ suất doanh lợi nội bộ ở mức cao.
+ phương thức tỷ suất doanh lợi nội bộ không chú trọng đến quy mô vốn đầu tư nên có thể kéo đến trường hợp kết lý luận thiếu thoả đáng khi đánh giá dự án.
e. cách thức chỉ số sinh lời (PI)
Chỉ số sinh lời cũng là một thước đo cấp độ sinh lời của một dự án đầu tư, có tính đến yếu tố trị giá thời gian của tiền tệ.
Chỉ số sinh lời được tính bằng phần trăm giữa trị giá ngày nay của khoản doanh thu do đầu tư mang lại và giá trị cho đến nay của vốn đầu tư.
Trong đó:
PI: Chỉ số sinh lời của dự án.
CFt : Khoản thu đầu tư trong năm thứ t.
ICt: Vốn đầu tư ở năm t.
r: Tỷ suất hoa hồng (thường được dùng là chi phí sử dụng vốn)
Việc dùng chỉ số sinh lời sử dụng tiêu phù hợp phân tích và chọn dự án đầu tư được thực hiện giống như sau.
– dựng lại chỉ số sinh lời của mỗi dự án.
– dùng chỉ số sinh lời để đánh giá và chọn dự án, cụ thể:
+ Nếu PI < 1 thì NPV < 0, all các dự án giống như vậy đều bị loại bỏ.
+Nếu PI=1 thì có thể chấp nhận hay loại bỏ dự án tuỳ theo tình hình cụ thể để doanh nghiệp quyết định.
+ Nếu PI > 1: nếu là dự án độc lập thì dự án được chấp thuận. Nếu là các dự loại trừ nhau thì thông thường dự án có chỉ số sinh lời cao nhất là dự án được lựa chọn.
Ưu , yếu điểm của phương thức
– phương pháp này cho thấy mối gắn kết giữa các khoản doanh thu do đầu tư đưa lại với số vốn đầu tư bỏ ra để thực hiện dự án.
– đủ sức sử dụng chỉ số sinh lời trong việc so sánh các dự án có số vốn đầu tư khác nhau để thấy được mức sinh lời giữa các dự án.
– phương thức này thường cũng giả định phần trăm tái đầu tư bằng với mức chi phí sử dụng vốn, điều này cũng tương tự giống như trong cách thức trị giá hiện giờ thuần, nó thêm vào hơn đối với cách thức tỷ suất doanh lợi nội bộ.
Cùng với những ưu điểm trên, công thức này cũng có yếu điểm cũng như phương thức tỷ suất doanh lợi nội bộ là nó k phản ánh trực tiếp khối lượng lợi nhuận ròng của một dự án.
Trên đây là các chỉ tiêu chủ yếu nghiên cứu hiệu quả kinh tế vốn đầu tư. Tùy theo từng trường hợp và yêu cầu kinh doanh của công ty đặt ra, công ty sẽ chọn chỉ tiêu cho thêm vào. Chẳng hạn công ty đề ra sản xuất kinh doanh với lãi vừa phải nhưng thu hồi vốn nhanh để đổi mới trang thiết bị, trong trường hợp này chỉ tiêu chủ yếu để lựa chọn dự án là kpi thời gian thu hồi vốn đầu tư.
Nguồn: quantri.vn